• baner chạy dọc bên trái
  • baner chạy dọc bên phải
Hotline: 04 3734 5600

Ths. Bs - Nguyễn Thị Hằng

Trưởng phòng khám nội - Bệnh viện Tuệ Tĩnh Học Viện Y Học Cổ Truyền Việt Nam

Đã truy cập: 245597

Đang online: 2

Tác dụng của củ ráy trong điều trị bệnh mỡ máu

(16:35:49 | 29/12/2014)

Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa với tỷ lệ người mắc các bệnh về rối loạn chuyển hóa như: đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp, gout, rối loạn chuyển hóa lipid…tăng lên với tốc độ rất nhanh.

Bệnh mỡ máu hay còn gọi là rối loạn chuyển hóa lipid là bệnh đặc trưng bởi sự mất cân bằng các thành phần Lipoprotein trong máu. Khi hội chứng này xuất hiện đồng nghĩa với việc người bệnh phải gánh chịu rất nhiều yếu tố nguy cơ mắc các bệnh lý nguy hiểm như ; vữa xơ động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.... Do vậy, rối loạn chuyển hóa lipid là một trong các mối quan tâm về sức khỏe cộng đồng trong thế kỷ 21. 

 

Ngày nay, y học hiện đại đã có những tiến bộ vượt bậc, đưa ra khá nhiều phương pháp để phòng cũng như can thiệp vào hội chứng này. Cùng với đó thì y học cổ truyền cũng đã và đang có những nghiên cứu đóng góp không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng.

 

Có rất nhiều phương pháp trong y học cổ truyền được áp dụng để điều trị các chứng bệnh này. Trong dân gian có rất nhiều vị thuốc, bài thuốc từ cây cỏ trong tự nhiên có tác dụng tốt trong việc điều trị rối loạn chuyển hoá lipid máu. Đó cũng là hướng nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, bởi nước ta có nguồn dược liệu vô cùng phong phú, dễ tìm kiếm, giá thành rẻ, ít độc tính nên có thể dùng trong thời gian dài phục vụ nhu cầu chữa bệnh.

 

Một số vị thuốc từ đã được sử dụng từ lâu trong dân gian với mục đích điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ máu như: táo mèo (sơn tra), lá sen (hà diệp), vỏ quýt (trần bì), củ ráy ... Trong đó, củ ráy là một vị thuốc quen thuộc đã được biết đến từ rất lâu trong dân gian.

 

Củ ráy có tên khoa học Typhonium Trilobatum, phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng, trung du và vùng núi thấp. Đây là loại cây ưa nước, mọc thành đám lớn ở bờ ao hồ, bờ suối hay kênh rạch. Cây sinh trưởng phát triển nhiều quanh năm. Cây mọc hoang trên đất ẩm ở nhiều nơi trong nước ta. Chiều cao khoảng 20-30cm. Lá chia ba thùy, cuống dài có bẹ.

 

Bộ phận dùng để chữa bệnh của của củ ráy là rễ củ phơi khô. Rễ củ được thu hái vào mùa hạ, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Khi dùng ngâm nước vo gạo, nước Gừng, đồ cho mềm rồi thái lát mỏng tẩm nước Cam thảo, sao vàng phơi khô.

 

Thành phần hóa học của củ chóc chủ yếu có tinh bột, saponin triterpen, alcaloid, flavonoid, hợp chất phenol...

 

Theo y học cổ truyền, củ ráy có vị cay, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ đàm, bình suyễn. Tuy  nhiên lâu nay mọi người cũng chỉ biết đến củ ráy trong điều trị các chứng bệnh viêm gan vàng da, tê buốt bàn chân, đau lưng, mỏi gối và điều chỉnh rối loạn chuyển hóa lipid máu.

 

Củ ráy có thể dùng liều 6-16g/ngày. Dạng thuốc sắc hay bột. Nhưng chú ý phải bào chế kỹ và theo đúng quy trình để thuốc không gây ngứa trong quá trình sử dụng.

 

Ngoài ra có thể sắc uống kết hợp với một số vị thuốc khác để điều trị rối loạn lipid máu: Củ ráy 20g, Lá sen 20g, Táo mèo 20g, Vỏ quýt 10g, Cam thảo 6g, Phục linh 12g, Ngũ vị tử 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Củ ráy chữa bệnh gút

 

Nguyễn Tâm

Bạn hãy đăng nhập vào Facebook để thực hiện bình luận và chia sẻ bản tin này với bạn bè.